
Ngày
31 tháng Bảy
Thánh IGNATIÔ LOYOLA,
linh mục sáng lập dòng Tên
(1493
– 1556)
Thánh Ignatiô sinh khoảng
năm 1493, tại Loyola miền Cantabria nước Tây Ban Nha, trong một gia đình quý
phái.
Ngài nhập ngũ và bị
thương khi giao tranh với quân Pháp ở Pampelune. Trong lúc dưỡng bệnh, tình cờ
ngài đã đọc những sách đạo đức và ngài cảm thấy một sức mạnh mãnh liệt phải bước
theo Chúa. Trở lại Mont-Serrat, ngài đã treo khí giới ở bàn thờ Đức Mẹ, và bắt
đầu thời kỳ tu tập (1523). Ngài sống nhịn nhục, nghèo khổ như một hành khất và
viết rất nhiều sách thiêng liêng giá trị. Năm 1534, tại đại học Balê, ngài tụ họp
9 người bạn cùng chí hướng thuộc các nước khác nhau và trên ngọn đồi
Montmartre, ngài đã đặt nền móng đầu tiên của dòng Tên, với một nguyện ước là
tìm vinh danh Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Ngoài ba lời khấn thông thường,
ngài còn thêm lời khấn hiến mình cho công cuộc truyền giáo theo ý hướng của Tòa
Thánh (1540). Với một lòng nhiệt thành giảng dạy giáo lý kèm theo việc đạo đức,
nước Chúa được mở rộng khắp nơi.
Ngài từ trần năm 1556,
hưởng thọ 63 tuổi. Suốt đời, ngài chỉ tìm vinh danh Chúa (Ad majorem Dei
gloriam).
Đức Giáo Hoàng Phaolô V
phong ngài lên bậc chân phước năm 1609. Mười bốn năm sau, Đức Thánh Cha Urbanô
VIII tôn ngài lên bậc hiển thánh và năm 1922, Đức Piô XI phong ngài làm đấng bảo
trợ những tuần tĩnh tâm.
Thánh PHÊRÔ ĐOÀN CÔNG
QUÝ, linh mục
và Thánh EMMANUEL LÊ VĂN PHỤNG,
giáo dân
(+
1859)
Thánh Phêrô Đoàn Công Quý
sinh năm 1826 tại họ Búng, hạt Thủ Dầu Một, dưới triều Minh Mạng. Cha ngài là
ông Antôn Đoàn Công Miêng và mẹ là bà Anê Nguyễn Thị Trường, vốn dòng quyền quý,
nguyên quán ở đàng Ngoài; nhưng vào cuối đời Gia Long (1802 – 1820), cả gia
đình đã di cư vào Nam và đến lập nghiệp tại họ Búng.
Năm 1847, ngài nhập Chủng
viện thánh Giuse tại Thị Nghè. Sang năm 1848, ngài được gởi học bên Pénang (Mã
Lai). Sau 7 năm học tập và tu luyện, ngài trở về quê hương vào năm 1855, giữa
lúc vua Tự Đức cấm đạo gắt gao. Ngài lần lượt lãnh nhận các chức, và đến tháng
9 năm 1858, được phong chức linh mục tại nhà thờ Thủ Dầu Một. Sau một thời gian
phục vụ tại các họ Lái Thiêu, Gia Định, Kiến Hòa, ngài được cử làm phó sở Cái
Mơn (Vĩnh Long). Cuối tháng 12 năm 1858, ngài đổi về họ Đầu Nước, Cù Lao Giêng,
họ chánh thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 7-1-1859, trong một
cuộc lùng xét “Tây dương đạo trưởng”, ngài đã bị bắt cùng với ông Emmanuel Phụng,
câu phủ họ Đầu Nước, và 32 giáo hữu khác. Tất cả bị xiềng xích giải về Châu Đốc.
Thánh Emmanuel Lê Văn Phụng
sinh năm 1796. Lúc cha Phêrô Đoàn Công Quý được cử tới họ Đầu Nước, ngài đang
làm câu phủ, rất nhiệt thành việc đạo và quí mến các linh mục. Ngày 7-1-1859,
ngài và 32 giáo hữu khác cùng bị bắt với cha Phêrô Quý, và bị điệu về giam ở
Châu Đốc.
Trong tù, hai đấng đã chịu
nhiều cực hình với một đức tin sắt đá. Ngày 30-7-1859, án tử hình của hai ngài
được gửi từ kinh về tới Châu Đốc. Hai ngài đã hiên ngang đổ máu đào để nên chứng
nhân Nước Trời vào ngày 31-7-1859.
Đức Thánh Cha Piô X đã tôn phong hai ngài lên hàng chân phước tử đạo ngày 2-5-1909 và Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã tôn phong hai ngài lên hàng Hiển Thánh ngày 19-6-1988.